Tin tức

Bí mật của những quân bài Tú lơ khơ

05/01/2018 05:22 - Lượt xem: 138
Bộ bài Tây (Hay còn gọi là Tú lơ khơ, hay bộ Tú) từ đâu đã rất quen thuộc trong dân ta. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết nguồn gốc thực sự của những quân bài này. Hãy cùng mình điểm qua một vài điều thú vị phía sau bộ bài này nhé!
Bộ bài
 
Trong tất cả các loại bài, bài 52 lá mà ta thường gọi là bài Tây. Bộ bài Tây, ở miền Bắc Việt Nam gọi là tú lơ khơ hoặc bộ tú, bao gồm có 54 lá bài (có cặp bài chỉ có 52 lá).
Ở Việt Nam, thường gọi bộ bài này là bộ bài Tây vì xuất xứ từ Tây phương và để phân biệt với bộ bài Trung Quốc hay bộ bài ta (để chơi Tam cúc, tứ sắc, tổ tôm,…).
Bộ bài Tây: chữ Hán: 杜拉克 – tiếng Anh: Playing cards.
 
 
 
Quân bài
Trong bộ bài tú lơ khơ có 52 lá thường: K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, A kết hợp với 4 chất: Cơ, Rô, Chuồn (Tép), Bích và hai lá Joker (còn gọi là phăng teo hay chú hề).
 
 
 
Lịch sử xuất xứ
Cho tới nay chưa có sách vở nào nói rõ về nguồn gốc của bộ bài này. Có giả thiết cho rằng chính người Trung Quốc chơi bài Tây đầu tiên, còn một số khác lại cho rằng chính người Ba Tư đã phát minh ra nó. Từ năm 1127, người Trung Quốc từng biết chơi các quân bài bằng gỗ được nhuộm nhiều màu, dù các hình vẽ còn đơn giản.
Ban đầu Bài Tây không phải chỉ có 4 nước. Một số loại bài xưa còn có đến 8 nước hoặc 10 nước và cách đây không lâu lắm người ta còn thử chơi bài Bridge với 5 màu.
Thú chơi bài từng được đón tiếp nồng nhiệt ở Venise, rồi Tây Ban Nha. Chưa đầy 100 năm sau ở Paris, đã phát sinh ngành công nghiệp sản xuất bài nhằm thỏa mãn đam mê của Vua Pháp Charles VI (1368-1422). Giới vua chúa trong triều đình Pháp thích chơi bài này đến nỗi có một sắc lệnh ban bố cấm giới dân đen không được chơi.
Đến năm 1480, người Anh bị mê hoặc bởi bộ bài 52 lá. Quốc Hội Anh thấy cần phải nhanh chóng ra lệnh cấm những người hầu và học việc không được chơi bài vào kỳ nghỉ lễ Noel. Đến thế kỷ 16 và 17, bộ bài 52 lá trở nên thông dụng trong tất cả các tầng lớp dân chúng ở Anh. Những người thuộc Hoàng Gia khi ấy, chơi bài suốt nhiều ngày liền với số tiền đặt rất lớn.
Thú chơi bài Tây và nguồn gốc xuất xứ ít ai biết tới!
Nghe chữ “Tây” khiến nhiều người nghĩ bộ bài này xuất phát từ Phương Tây. Trên thực tế Trung Quốc mới là quốc gia đầu tiên chơi bài Tây.
Người Trung Quốc đánh bài Tây từ thế kỷ thứ 9, đời Đường, chủ yếu là dành cho đối tượng vương giả, quan lại. Thú chơi bài nhanh chóng lan sang các nước phương Tây và được đón nhận nồng nhiệt bởi nhiều tầng lớp trong xã hội, từ lao động, công nhân đến vua chúa với cái tên bài Poker.
Thậm chí tại Paris (Pháp) thời bấy giờ đã phát sinh ngành công nghiệp sản xuất bài Tây nhằm thoả mãn niềm đam mê choi Poker của Vua Pháp Charles VI (1368 – 1422).Vua Pháp Charles VI là một người rất đam mê đánh bài Tây
Bài Tây du nhập vào Việt Nam như thế nào?
Bài Tây du nhập vào Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 khi Thực Dân Pháp xâm chiến nước ta. Bài Tây được đem sang Việt Nam cũng giống như những vật dụng, hàng hoá, như quần âu, bánh mì, khoai tây…..đều là do “Người Tây” mang sang, do đó cái tên bài “Tây” xuất phát từ đó.
Tại miền Bắc, bài Tây phát triển mạnh từ trong giai đoạn 1950 – 1951 trở đi, bắt đầu từ khu căn cứ Việt Bắc, rồi lan dần cả nước. Đây được coi như một thú vui tiêu khiển đối với những người lính những lúc nghỉ ngơi trước khi ra trận. Cái tên Tú Lơ Khơ cũng xuất phát từ đây.
Các chiến sĩ và sĩ quan Liên Xô sang làm việc tại nước ta cũng coi chơi bài như một thú vui. Mỗi ván bài họ thường hay đùa nhau bằng câu nói “Vot, durak” (Tức là Xem này, thằng ngốc!) tại phút chót quyết định sự được thua mỗi ván, lúc lật quân bài quật xuống chiếu.
Lâu dần thành phản xả ăn vào tiềm thức của những người lính ta. Tuy nhiên, từ “durak” phát âm khá khó. Do đó, các chiến sĩ ta đã phiên trại âm từ “durak” = đu ra khơ = tulokho .
Lâu dần đọc quen miệng người ta vẫn thường gọi là Tú lơ khơ.Trải qua thời gian, bài Tây cũng có nhiều sự thay đổi so với phiên bản ban đầu
Sự thay đổi của bộ bài Tây (Tú lơ khơ ) theo thời gian
Trải qua thời gian, bài Tây cũng có nhiều sự thay đổi so với phiên bản ban đầu. Bài Tây cổ có đến 8 – 10 chất thay vì chỉ 4 chất như ngày nay.
4 chất bài ban đầu có dạng TIM, CHUÔNG, LÁ, và QUẢ SỒI cho đến khi được thay thế bằng hình ảnh TIỀN, CÓC, KIẾM, GẬY tượng trưng tương ứng với Giới thương nhân, Nhà thờ, Giới quân sự, và Tầng lớp Lao động, mang đậm đặc tính phong kiến thời bấy giờ.
Mãi sau này 4 nước bài mới đổi thành: TIM (quân cơ), CƠ (quân rô), CÁNH CHUỒN (quân nhép), NGỌN GIÁO (quân bích). Riêng quân Bích, khác các quân bài khác, không tượng trưng cho một tầng lớp xã hội nào lúc bấy giờ. Có lẽ Quân Bích (NGỌN GIÁO) được lấy cảm hứng từ các vũ khí và dụng cụ được phát minh ra thời bấy giờ.
Ý nghĩa từng quân bài
Một bộ bài Tây mang ý nghĩa của 1 năm dương lịch. Theo đó, 4 chất Cơ, Rô, Chuồn (Tép) và Bích tương ứng với 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
13 loại lá bài tượng trưng cho 13 giai đoạn của mặt trăng, có thể hiểu nó được sử dụng như một cuốn lịch âm song hành. Những chất bài còn được sử dụng cho các yếu tố ma thuật trong bói toán.
Spades – quân Bích
Quân Bích: Đại diện cho thanh kiếm, không khí, sức mạnh của hơi thở và tâm lực, hiện thân cho người đàn ông. Trong bói toán, nó đại diện cho sự cách trở, không thuận lợi. Ví như quân hai bích mang hàm ý bạn gặp tổn thương do bạn đặt niềm tin quá nhiều ở một người rồi không được đền đáp xứng đáng.
Heart – quân Cơ
Quân cơ: Chúng đại diện cho nước, sức mạnh của tiềm thức và sự chữa lành bệnh tật, hiện thân cho người phụ nữ. Ví như quân 9 Cơ trong thuật bói toán có nghĩa về thời vận, bạn có người âm hay thần linh phù trợ, che chở.
Diamonds – quân Rô
Chất Rô mang ý nghĩa của lá chắn, trái đất, sức mạnh, sức chịu đựng và sự phong phú, đa diện. Chúng còn mang biểu tượng của sự giàu có, do hình dáng khiến người xem liên tưởng tới các viên ngói lớp trên mái nhà của giới thương nhân phương Tây.
Quân 9 Rô lại có cho riêng mình một truyền thuyết. Trong một thời gian dài, quân bài này được gọi là “tai họa của xứ Scotland”. Các nhà sử học ghi lại rằng, chính trên lá bài 9 Rô, Công tước Cumberland (1721 – 1765) đã viết lệnh tàn sát các tù binh bị thương sau trận Culloden (1976).
Clubs – quân Nhép
Đại diện cho hình ảnh cây đũa thần, lửa, ý chí và sự biến đổi vạn năng. Ví như quân Át nhép có nghĩa là suy nghĩ tương quan về nhân quả nợ nần với nhau, sự vay trả trong đời. Trong bói toán người bốc phải quân này có nghĩa là người có nhiều tiền, song không phải tiền của mình mà là tiền của người khác hoặc đi vay mượn.
Joker – quân Thằng hề
Quân phăng teo: lại là một lá bài đặc biệt trong bộ bài 54 cây hiện đại. Mỗi bộ thường có hai lá bài này. Joker thường có 1 lá màu đen trắng và 1 lá màu sắc sặc sỡ. Các nhà sản xuất cho rằng họ làm quân phăng teo chỉ với mục đích gây hài, bản thân tác dụng của quân Joker cũng không nhiều, nó vốn là một quân bài tự do, không có luật chơi nào áp đặt lên được. Lá bài này phổ biến ở Đức, Mỹ; thậm chí ở đây chúng còn là lá bài chủ cao nhất, thậm chí được phép đại diện cho nhiều lá bài khác nhau.
Trong bộ bài tarot được sử dụng trong chiêm tinh học, thì quân Joker được so sánh với The Fool – quân bài không được đánh số, có thể là tất cả và cũng có thể chẳng là gì. Nghĩa xuôi là sự khởi đầu của sự sống, ngây thơ, tự phát, còn nghĩa ngược lại là sự ngây thơ đến khờ dại, liều lĩnh.
 
Facebook chat